Giáo sư Mỹ sống ở Sài Gòn trước 1975: 'Đó là một thành phố đầy sinh khí và tự do'

Ông Stephen B. Young (bìa phải) làm việc tại Việt Nam từ năm 1968 - 1972

Nguồn hình ảnh, Stephen B. Young

Chụp lại hình ảnh, Ông Stephen B. Young (bìa phải) làm việc tại Việt Nam từ năm 1968 - 1972
Được đăng
Thời gian đọc: 9 phút

Nửa thế kỷ sau ngày Sài Gòn đổi tên thành TP HCM, ký ức về thành phố này vẫn còn nguyên trong tâm trí Giáo sư Stephen B. Young – một người Mỹ từng sống, làm việc và kết hôn tại Sài Gòn đầu thập niên 1970.

Trong cuộc trò chuyện với BBC News Tiếng Việt, ông không nói bằng tư cách một công chức người Mỹ, mà bằng ký ức của một người đã đi qua những con đường đông đúc, ăn những tô hủ tiếu buổi sáng, ngồi uống bia với bạn bè ở quán bò bảy món gần phi trường Tân Sơn Nhứt.

Trong ký ức của ông, Sài Gòn không chỉ là một địa danh, mà là biểu tượng của một thời kỳ "đông đúc, đầy sinh khí, cởi mở và tràn đầy hy vọng".

Đó cũng là nơi ông gặp người vợ Việt Nam, tổ chức đám cưới và có những năm tháng làm việc sâu sát với chính quyền địa phương miền Nam.

Chuyện tình ở đường Trần Quang Khải

Cuối những năm 1960, chàng trai trẻ Stephen B. Young đến Việt Nam làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) trong chương trình phát triển nông thôn CORDS, phụ trách các chương trình phát triển nông thôn và phân quyền cho cấp xã.

Từ năm 1970 đến 1971, ông sống tại căn nhà số 47 đường Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ).

"Lúc đó tôi đang quen cô Phạm Thị Hòa, rồi sau đó làm đám cưới ở Sài Gòn. Thành ra mỗi khi nhắc đến Sài Gòn, tôi lại nhớ đến đám cưới của mình."

Gia đình bà Hòa là người di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954. Theo lời ông kể, cha mẹ vợ từng có nhiều nhà cửa và ruộng đất ở Hà Nội nhưng đã quyết định rời đi khi chương trình Cải cách ruộng đất diễn ra.

Chương trình "đánh địa chủ" này đã để lại những hệ quả phức tạp, vừa hiện thực hóa khẩu hiệu "người cày có ruộng", vừa gây ra nhiều nỗi đau thương do những sai lầm trong đấu tố.

Giáo sư Young nói rằng gia đình vợ ông vì vậy đã quyết tâm đi vào miền Nam, thuê một căn nhà "nhỏ xíu" trên đường Trần Quang Khải vì họ không có nhiều tiền và căn nhà ấy đã trở thành nơi ông lui tới thường xuyên.

"Chúng tôi đi chơi ở khu Trần Quang Khải rất nhiều. Đó là con đường tôi nhớ nhất của Sài Gòn," ông nhớ lại.

Khi nhắc về Sài Gòn trước 1975, ông nhớ những bữa hủ tiếu, phở buổi sáng, một tiệm ăn Pháp nấu "rất chuẩn vị" và đặc biệt là một quán bò bảy món ở đường Công Lý (hiện nay là Nam Kì Khởi Nghĩa và Nguyễn Văn Trỗi), gần phi trường Tân Sơn Nhứt.

"Ngồi đó với bạn bè uống bia, ăn bò bảy món rất vui. Không khí rất tự do và dễ chịu."

Ông Stephen B. Young kết hôn cùng người vợ Việt Nam, bà Phạm Thị Hòa, tại Sài Gòn

Nguồn hình ảnh, Stephen B. Young

Chụp lại hình ảnh, Ông Stephen B. Young kết hôn cùng người vợ Việt Nam, bà Phạm Thị Hòa, tại Sài Gòn

Một Sài Gòn 'đầy sinh khí'

Ấn tượng đầu tiên của vị giáo sư Mỹ về Sài Gòn trước năm 1975 là nhịp sống sôi động.

"Có rất nhiều người ngoài đường, xe máy chạy rất đông. Khi nhìn họ, tôi thấy họ có mục đích muốn đi đâu, làm gì. Không khí rất phấn khởi."

Ông cho rằng thành phố khi ấy mang lại cảm giác người dân đang chủ động theo đuổi ước mơ và công việc của mình.

"Nhiều người có việc làm, họ theo đuổi những nguyện vọng của họ. Không khí rất tự do về kinh tế, chính trị, báo chí."

Trong công việc, ông tiếp xúc với nhiều nhân vật trí thức và chính trị miền Nam như Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy hay ông Phạm Thái.

Điều khiến ông ấn tượng là sự đa dạng quan điểm trong xã hội miền Nam lúc bấy giờ.

"Có nhiều ý kiến khác nhau, nhiều tôn giáo khác nhau như Công giáo, Hòa Hảo, Cao Đài..., nhiều nhóm chính trị khác nhau như Đại Việt, Tân Đại Việt, Quốc dân Đảng… Rất phong phú và đầy sinh khí."

Ông Stephen B. Young (bìa phải) làm việc với các ấp, xã ở miền Nam Việt Nam đầu những năm 1970

Nguồn hình ảnh, Stephen B. Young

Chụp lại hình ảnh, Ông Stephen B. Young (bìa phải) làm việc với các ấp, xã ở miền Nam Việt Nam đầu những năm 1970

Ông Young nói tiếng Việt giọng miền Nam rất thành thạo do trong thời gian sống ở Sài Gòn, ông sử dụng hằng ngày trong công việc cũng như tiếp xúc với người dân địa phương.

Vai trò của ông là kết nối giữa các quan chức Mỹ và chính quyền địa phương ở các xã ấp miền Nam, rồi báo cáo lên đại sứ Mỹ tại Sài Gòn.

"Tôi cố gắng giúp hai bên hiểu nhau, làm việc chặt chẽ với nhau và tin nhau."

Theo ông, chính bầu không khí cởi mở của Sài Gòn đã tạo điều kiện cho điều đó.

"Nếu mình khéo một chút thì các cánh cửa đều mở để mình có thể đi vào nói chuyện. Không có gì phải giấu."

Ông cho biết cảm giác này khác hẳn khi ông ra Hà Nội vào đầu những năm 1990.

"Tôi thấy nhiều người không muốn nói, vì họ không biết nói ra thì có lãnh hậu quả hay không, hay nói gì không đúng rồi bị người khác báo cáo là có chuyện," ông đánh giá.

Ông Stephen B. Young ngồi trong xe trước căn hộ (trên tầng hai) mà ông ở khi làm việc tại thành phố Vĩnh Long

Nguồn hình ảnh, Stephen B. Young

Chụp lại hình ảnh, Ông Stephen B. Young ngồi trong xe trước căn hộ (trên lầu 1) mà ông ở khi làm việc tại Vĩnh Long

Trở lại Sài Gòn sau chiến tranh: sự thay đổi

Đầu thập niên 1990, ông Young quay lại Việt Nam với mong muốn thúc đẩy đối thoại hòa giải giữa chính quyền Hà Nội và một số nhân vật thuộc phía Việt Nam Cộng hòa.

Ông kể mình từng bị công an làm việc trong hai ngày tại Sài Gòn, còn một người bạn bị đưa ra tòa vì tham gia chương trình hòa giải.

Điều khiến ông buồn hơn cả là cảm giác của thành phố lúc ấy.

"Người dân không vui vẻ như trước. Đi ngoài đường ít thấy họ cười, nhiều người có vẻ lo sợ và không rõ tương lai sẽ ra sao."

Ông nói mình không ngạc nhiên vì từng thấy cảm giác tương tự ở các thành phố dưới chế độ cộng sản khác, chẳng hạn như Bắc Kinh, nơi ông cho rằng người dân "sợ sệt và không dám bày tỏ ý kiến cá nhân".

Đường phố Sài Gòn năm 1992

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Đường phố Sài Gòn năm 1992

Năm 2025, con trai ông sang Việt Nam công tác và gửi ảnh về cho cha.

"Cháu nói có nhiều tòa nhà mới, đi ở ngoài đường nhìn lên các tòa nhà, Sài Gòn bây giờ như Singapore hay Tokyo. Người dân có sinh khí, vui vẻ và rất năng động."

Nghe con nói vậy, ông nói với BBC rằng mình cảm thấy "Sài Gòn ngày xưa cũng như thế".

"Người Việt khi đó muốn học gì thì học, làm gì thì làm, muốn biểu tình thì biểu tình. Và bây giờ so với Hà Nội, Sài Gòn vẫn còn giữ được phần nào tính cách tự do ấy."

Landmark 81 - tòa nhà chọc trời cao nhất Việt Nam, tại TP HCM - nhìn từ trên cao

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Landmark 81, tòa nhà chọc trời cao nhất Việt Nam

'Sài Gòn là của dân, TP HCM là của Đảng'

Khi được hỏi về sự khác biệt giữa hai tên gọi Sài Gòn và TP HCM, Giáo sư Young nói đây là cảm nhận cá nhân chứ không phải một nghiên cứu học thuật.

"Đối với tôi, Sài Gòn là của dân, còn TP HCM là của Đảng."

Ông cho biết mình chỉ biết tin thành phố đổi tên qua truyền hình và báo chí sau khi đã trở về Mỹ. Theo ông, cái tên "Sài Gòn" mang nhiều ý nghĩa vượt ra ngoài một đơn vị hành chính.

"Khi nhiều người Việt nói chữ Sài Gòn, tôi nghĩ họ đang nói đến một lập trường về dân tộc, chính trị, tự do và giáo dục. Vì vậy chữ Sài Gòn có ý nghĩa rất lớn với người Việt."

Ông cũng cho rằng cái tên Sài Gòn không hề mất đi, vì những người Việt Nam mà ông gặp (kể cả trong nước và hải ngoại) đều dùng tên Sài Gòn, không ai nói TP HCM.

Theo ông, với nhiều người Việt hải ngoại, từ "Sài Gòn" không chỉ là tên địa lý mà còn gợi lên những ký ức về tự do, giáo dục và đời sống xã hội trước năm 1975.

Trong khi đó, ông nói rằng đối với nhiều người Mỹ trước năm 1975, cái tên Sài Gòn chỉ đơn giản là "Saigon Government", có nghĩa là Chính phủ Sài Gòn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

"Đối với nhiều người Mỹ khi đó thì cái tên này không có gì đặc biệt, họ chỉ tới đó để làm việc chứ không phải đi chơi hay thăm thú," ông nhớ lại.

Ngày nay, Giáo sư Young cho biết nhiều người trẻ ở Mỹ sinh sau năm 1975 vẫn dùng tên gọi Sài Gòn, khi họ muốn nói đến Chính phủ Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa như người bạn, đồng minh của Mỹ vào thời đó.

Gần đây, "Sài Gòn" trở lại là tên của một phường tại TP HCM. Với Giáo sư Young, đó là một tín hiệu đáng chú ý.

"Đối với tôi, đó là một bước đi hướng tới hòa giải thật sự giữa các phe phái sau rất nhiều năm. Một bước nhỏ nhưng là bước đi rất tốt," ông đánh giá.

Khi được hỏi hãy mô tả Sài Gòn trước năm 1975 bằng vài từ, Giáo sư Young trả lời không cần suy nghĩ lâu: "Crowded, energetic, hopeful, cheerful, open." (Đông đúc, đầy sinh khí, đầy hy vọng, vui vẻ, cởi mở).

Đó cũng là những từ mà, với ông, giải thích vì sao cái tên Sài Gòn vẫn còn sống rất lâu trong ký ức của nhiều người Việt và cả những người Mỹ từng đi qua thành phố này.

Giáo sư Stephen B. Young hiện là Giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism. Ông từng làm phó hiệu trưởng Trường Luật Đại học Harvard, Giáo sư Luật tại Hamline University Law School.

Ông từng làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) từ năm 1968-1972, sau đó là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Những năm sau 1975, ông cùng vợ tham gia trợ giúp các thuyền nhân Việt Nam tị nạn tại Mỹ.

Các tác phẩm của Giáo sư Stephen B. Young gồm Kissinger's Betrayal: How America lost the Vietnam War, The Theory and Practice of Associative Power - CORDS, The Tradition of Human Rights in China and Vietnam, Moral Capitalism, The Way to Moral Capitalism...

Ông cùng vợ đã dịch tác phẩm Đỉnh cao chói lọi (The Zenith) của nhà văn Dương Thu Hương sang tiếng Anh.

Xem thêm:

Chụp lại video, Chiến Tranh Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa thua do sự phản bội của Kissinger?