You’re viewing a text-only version of this website that uses less data. View the main version of the website including all images and videos.
Siêu dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng: Những thành phố khác đã làm gì với các dòng sông của họ?
"Một ngày mùa thu
Hồng Hà mùa thu đầy gió
Con sáo sang sông
Con sít thương ai, lội sông, lội sông .... tìm ai!"
Từ lâu, sông Hồng đã chảy không chỉ qua địa lý mà còn qua thơ ca, âm nhạc và lịch sử Việt Nam, như những câu hát trong ca khúc Ngẫu hứng sông Hồng của nhạc sĩ Trần Tiến này.
Con sông này vừa là mạch nguồn châu thổ, vừa là ranh giới của thành phố Hà Nội, thủ đô "ngàn năm văn hiến" của Việt Nam.
Dòng sông ấy đã chứng kiến sự ra đời của kinh thành Thăng Long khi Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về vào năm 1010, chứng kiến những cuộc thiên di của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, những mùa lũ dữ và cả sự mở rộng của Hà Nội trong thế kỷ 21.
Bên trong những con đê là đô thị không ngừng mở rộng, từ kinh thành cổ đến thủ đô hơn tám triệu dân ngày nay. Bên ngoài là bãi bồi, làng xóm, ruộng màu và những khoảng không gian mở hiếm hoi còn sót lại giữa một thành phố ngày càng đông đúc.
Nhưng điều đó đang thay đổi.
Một bản quy hoạch mới đang mở ra viễn cảnh về một Hà Nội quay mặt ra sông sau nhiều thập niên quay lưng lại với nó.
Chính quyền Việt Nam đã chính thức công bố phê duyệt quy hoạch và lấy ý kiến người dân, nhà đầu tư đối với Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng (quy mô 11.000 ha) vào tháng 3/2026.
Đến hôm 11/5, HĐND TP Hà Nội thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư này, với mức đầu tư toàn khoảng 737.000 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào năm 2030.
Về quy mô, dự án trải dọc sông Hồng từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, đi qua 16-19 xã, phường ở cả hai bờ sông. Đây sẽ là một trong những dự án hạ tầng - chỉnh trang đô thị lớn nhất từng được đề xuất tại thủ đô của Việt Nam.
Theo số liệu do UBND Hà Nội công bố, khu vực nằm trong phạm vi dự án hiện có khoảng 247.000 người, tương đương hơn 70.000 hộ dân. Đây là những người đang sinh sống tại các làng ven sông, khu dân cư ngoài đê, khu vực bãi giữa, đất nông nghiệp và các khu dân cư hiện hữu dọc hai bờ sông Hồng.
Điều đó không có nghĩa tất cả đều sẽ phải di dời, nhưng quy mô giải phóng mặt bằng được đánh giá là rất lớn và có thể trở thành cuộc tái định cư đô thị lớn nhất trong lịch sử Hà Nội hiện đại.
Siêu dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng có thể làm thay đổi cấu trúc phát triển của Hà Nội như thế nào?
Lợi ích và rủi ro
Với quy mô hơn 11.000ha và tổng mức đầu tư dự kiến lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng được kỳ vọng sẽ mở ra một chương mới cho Hà Nội.
Một số người ủng hộ cho rằng đây là cơ hội hiếm có để Hà Nội giải quyết một nghịch lý kéo dài nhiều thập niên: sở hữu một dòng sông lớn chảy xuyên qua thành phố nhưng chưa khai thác được giá trị cảnh quan và không gian công cộng của nó.
Nếu được triển khai thành công, dự án có thể mở ra một trục phát triển mới cho thủ đô, giảm áp lực lên khu vực nội đô vốn đã quá tải. Hệ thống công viên, quảng trường, đường ven sông và các không gian công cộng mới có thể giúp nâng cao chất lượng sống cho hàng triệu cư dân.
Dự án cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kết nối giữa khu vực trung tâm lịch sử với Long Biên, Gia Lâm và Đông Anh, những khu vực được xem là động lực phát triển mới của Hà Nội trong những thập niên tới.
Nhiều chuyên gia quy hoạch cho rằng việc đưa sông Hồng trở thành trung tâm không gian đô thị có thể giúp thành phố phát triển cân bằng hơn thay vì tiếp tục mở rộng chủ yếu về phía tây như hiện nay.
Tuy nhiên, những lợi ích tiềm năng đó đi kèm với không ít rủi ro.
Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, ông Sơn Đặng, tốt nghiệp thạc sĩ kiến trúc tại Đại học Cornell, Mỹ, dù nói rằng việc quay mặt ra sông Hồng là "có tầm nhìn", song nhấn mạnh rằng "có tầm nhìn và có quyết tâm cao, đi kèm với cách làm sai và thực hiện quá vội vã sẽ dễ tạo ra các sai lầm khó sửa chữa".
"Làm thế nào để dung hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân; vừa phát triển đô thị vừa không làm đứt gãy nền kinh tế và đời sống của người dân bãi sông mà vẫn giữ được không gian đủ an toàn cho một con sông rất dữ dội vào mùa lũ?" ông đặt vấn đề.
Một rủi ro lớn đang hiện hữu là câu chuyện tái định cư, khi hàng chục ngàn hộ dân nằm trong phạm vi quy hoạch.
Theo ông Sơn Đặng, một quy hoạch tốt cần phải "đặt người dân làm chủ thể chính" và cần tính tới lợi ích của người dân bãi sông trong mọi cân nhắc và quyết định quan trọng.
Vị kiến trúc sư từng làm việc tại nhiều tập đoàn quốc tế và phát triển nhiều dự án theo chuẩn mực quốc tế cho rằng nên "hạn chế tối đa" việc vẽ xa lộ xé đôi các xóm làng cổ, và luôn nỗ lực thực hiện việc tái định cư tại chỗ, đền bù thỏa đáng theo giá thị trường thực, tham vấn cộng đồng có tổ chức và cơ chế khiếu nại độc lập.
Trong các nhóm cư dân và diễn đàn trên mạng xã hội, những câu chuyện về mức bồi thường chưa đáp ứng kỳ vọng, khó khăn trong tái định cư hay nguy cơ mất sinh kế sau khi thu hồi đất thường xuyên xuất hiện.
Một người dùng mạng xã hội Threads viết rằng: "Biết là đô thị Hà Nội sẽ trở nên đẹp, phát triển và đáng sống, nhưng những người bị giải tỏa nhà cũng xứng đáng với những điều tốt đẹp đó mà. Thêm một Thủ Thiêm ở Hà Nội sao?"
Những người khác đi vào câu chuyện cụ thể hơn:
"Đất nhà mình ở Âu Cơ, có sổ đàng hoàng, gần Lotte Mall Tây Hồ với công viên nước Hồ Tây, mua 15 năm trước cũng đã 80 triệu/m2. Giá hiện tại trên thị trường khoảng 200 triệu/m2. Kế hoạch đền bù hiện tại là tiền đền thì 40 triệu/m2 hoặc là lấy đất nền Đông Anh hoặc đất chung cư Gia Lâm. Chọn kiểu gì cũng lỗ nặng."
"Cứ giải tỏa xong xây nhà tái định cư ngay tại chỗ đấy cho người ta thì ai nói gì đâu. Đằng này lấy đất để xây biệt thự, chung cư cao cấp bán cho người giàu."
"Ở Hà Nội tầm này chắc bán hết nhà đất đi xong thuê ở, đợi đến năm 2035 sau khi hoàn thiện 'vươn mình' rồi mua lại. Chứ hôm nay thông báo quy hoạch khu này, mai thông báo quy hoạch chỗ kia, hoang mang quá."
Hồi cuối tháng Năm, tại nhiều ngôi làng, trong đó có làng Hải Bối, người dân cùng nhau mặc áo, treo băng rôn với những dòng chữ "đề nghị giữ nguyên làng cổ 2.000 năm", trong khi ở khu vực Bắc Cầu, phường Bồ Đề, nhiều nhà dân treo băng rôn "khẩn cầu" chính quyền "xem xét tâm tư nguyện vọng của dân".
Theo kiến trúc sư Sơn Đặng, với phản ứng của người dân gần đây, có thể thấy họ bất an và đau đớn vì bị "bứng" đi khỏi nơi cư trú một cách đột ngột.
"Điều này sẽ dễ dẫn đến các khủng hoảng xã hội trầm trọng kéo dài.
"Đây là dấu hiệu cho thấy dự án này không phải là một quy hoạch tốt nhận được sự đồng thuận của người dân," ông Sơn đánh giá.
Trong khi đó, một kiến trúc sư ở Hà Nội trả lời phỏng vấn của BBC trong điều kiện ẩn danh lại cảnh báo về những thách thức môi trường và thủy văn.
"Không giống nhiều dòng sông đô thị đã được kiểm soát chặt chẽ ở các nước phát triển, sông Hồng vẫn là một hệ thống tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát lũ cho toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Điều đó đòi hỏi mọi hoạt động xây dựng phải được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh làm gia tăng các rủi ro liên quan đến ngập lụt và biến đổi khí hậu trong tương lai", vị này nhận định.
Bên cạnh đó, bài toán tài chính cũng là một vấn đề được thảo luận. Với tổng mức đầu tư lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, dự án sẽ đòi hỏi nguồn lực rất lớn từ khu vực công và tư nhân.
"Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các dự án ven sông quy mô lớn thường kéo theo áp lực thương mại hóa quỹ đất nhằm bù đắp chi phí đầu tư. Điều này đặt ra câu hỏi về việc cân bằng giữa lợi ích công cộng và lợi ích thương mại trong quá trình phát triển," chuyên gia ẩn danh nói.
Những rủi ro 'phi vật thể'
Không chỉ là các bài toán kinh tế, các lợi ích và rủi ro có thể dễ dàng đo đếm được, cuộc đại di dời ven sông Hồng cũng đặt ra những dấu hỏi lớn về lịch sử, văn hóa, đời sống tinh thần.
Kiến trúc sư Sơn Đặng đánh giá rằng dự án này sẽ xóa đi hệ thống làng cổ ven sông Hồng của Hà Nội, điều mà ông cho là "rất đáng lo ngại".
"Trong bối cảnh nhiều siêu đô thị châu Á đã đánh mất gần như toàn bộ cấu trúc làng cổ ven sông của mình vì các cơn cuồng 'hiện đại hóa cực đoan' thế kỷ 20, dự án này lại gần như lặp lại sai lầm này," ông Sơn Đặng, người từng làm việc tại nhiều tập đoàn quốc tế và phát triển nhiều dự án theo chuẩn mực quốc tế, nhận định.
Ở hữu ngạn sông Hồng, nơi tập trung khu vực nội đô lịch sử của Hà Nội, phần lớn quỹ đất đã được đô thị hóa từ lâu. Tuy nhiên, dọc tuyến sông vẫn còn những cộng đồng ven đê và các làng cổ như Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng Bá hay Nghi Tàm – những khu vực từng là làng nghề, làng hoa và vẫn lưu giữ phần nào cấu trúc làng truyền thống giữa quá trình đô thị hóa nhanh chóng.
Trong khi đó, tả ngạn sông Hồng, đặc biệt tại Long Biên, Gia Lâm và một phần Đông Anh, vẫn còn nhiều khu dân cư mang dáng dấp của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Các làng như Bát Tràng, Kim Lan (đã sáp nhập vào xã Kim Đức), Đông Dư (sáp nhập vào xã Bát Tràng) hay những cộng đồng cư dân sinh sống trên các bãi bồi ven sông vẫn duy trì mối liên hệ chặt chẽ với không gian nông nghiệp, làng nghề và hệ thống di sản địa phương.
Theo ông Sơn, đi sâu vào cấu trúc các làng như Thượng Đình, Đông Ngạc, Nhật Tân, Tứ Liên, Nghi Tàm, Bát Tràng, Phúc Xá… mới thấy giá trị của khu vực này không nằm ở vài công trình riêng lẻ, mà ở "cả một lớp trầm tích văn hóa cư trú hình thành liên tục suốt hàng trăm năm".
Chuyên gia này cho biết nhiều làng trong khu vực dự án hiện nay thực chất có lịch sử từ thời Lê–Mạc, thậm chí sớm hơn, với tuổi đời 500–600 năm hoặc lâu hơn.
"Đó không phải những 'xóm ven sông' đơn giản, mà là những cộng đồng cổ từng tồn tại như các đơn vị kinh tế – tín ngưỡng – thủy lợi độc lập của vùng châu thổ sông Hồng. Và ngày nay, hệ thống làng cổ ven sông Hồng thực chất là một dạng 'di sản đô thị sống' rất hiếm," kiến trúc sư Sơn Đặng cho hay.
Vị kiến trúc sư ẩn danh lại cho rằng "thành công của các dự án ven sông không nằm ở những tòa nhà mới, mà ở cách các thành phố cân bằng giữa phát triển kinh tế, bảo tồn di sản và quyền lợi của cộng đồng cư dân hiện hữu."
Ngoài ra, kiến trúc sư Sơn Đặng nhấn mạnh rằng nếu Hà Nội thực sự muốn hướng mặt ra sông, thì việc đầu tiên cần làm là công tác khảo cứu, điền dã, ghi chép, thống kê và lên kế hoạch bảo tồn dải văn hóa bãi bồi này.
"Mất hàng chục năm nỗ lực mới giữ gìn và tôn tạo được không gian văn hóa – sinh thái độc nhất vô nhị này của Đông Nam Á," ông đánh giá.
Vì vậy, chuyên gia này cho rằng hướng mặt ra sông cần dựa trên bối cảnh đặc thù của địa phương và có định hướng cũng như cách làm phù hợp, khoa học chứ không phải là câu chuyện đơn giản xây rừng cao ốc bám theo xa lộ ven sông.
Những thành phố khác đã làm gì với các dòng sông của họ?
Các vấn đề tương tự cũng từng được đặt ra tại Seoul, Thượng Hải... khi các thành phố này bắt đầu quy hoạch lại những dòng sông lớn chảy qua trung tâm đô thị.
Theo vị kiến trúc sư ẩn danh ở Hà Nội, kinh nghiệm quốc tế cho thấy thành công của các dự án ven sông thường không nằm ở quy mô đầu tư hay số lượng công trình được xây dựng, mà ở cách các thành phố cân bằng giữa phát triển kinh tế, không gian công cộng và quyền lợi của cộng đồng hiện hữu.
"Ở Seoul [Hàn Quốc], sông phải là không gian công cộng trước khi là bất động sản," vị này nêu ví dụ.
Trong nhiều thập niên, sông Hán (Hangang) là biểu tượng của quá trình hiện đại hóa thần tốc của Hàn Quốc, tên gọi của con sông này được đưa vào thuật ngữ "Kỳ tích sông Hán", bắt nguồn từ sự phát triển ngoạn mục của thủ đô Seoul trải dài hai bờ sông Hán.
"Thay vì dành phần lớn bờ sông cho các dự án bất động sản, chính quyền thành phố đã đầu tư mạnh vào hệ thống công viên, đường đi bộ, đường xe đạp và các không gian công cộng mở. Kết quả là hàng triệu người dân có thể tiếp cận bờ sông mỗi ngày mà không bị ngăn cách bởi các khu dân cư khép kín hay các công trình thương mại," chuyên gia này đánh giá.
Các bài học khác đến từ Tokyo (Nhật Bản) và Rotterdam (Hà Lan) là không nên coi sông ngòi đơn thuần là quỹ đất để phát triển đô thị.
Thay vì bê tông hóa hoàn toàn bờ sông, các thành phố này ngày càng ưu tiên bảo tồn vùng ngập nước, hành lang sinh thái và không gian thoát lũ tự nhiên để thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đối với Hà Nội, điều này đặc biệt quan trọng bởi sông Hồng vẫn là hệ thống tiêu thoát lũ chủ yếu của đồng bằng Bắc Bộ.
Nhiều chuyên gia cho rằng những bãi bồi và không gian ngoài đê cần được nhìn nhận như một phần của hạ tầng chống ngập, thay vì chỉ là quỹ đất chờ khai thác.
"Nói cách khác, bài học từ Rotterdam, Tokyo là: quy hoạch thành công không phải là giành đất từ dòng sông nhiều nhất có thể, mà là tìm cách chung sống với dòng sông trong bối cảnh khí hậu đang thay đổi," kiến trúc sư ẩn danh nhận định.
Trong khi đó, kinh nghiệm của một số thành phố Trung Quốc lại cho thấy những rủi ro cần tránh.
Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, kiến trúc sư Sơn Đặng nêu một ví dụ về thành phố Thượng Hải ở Trung Quốc.
Theo ông, từ những năm 1990 đến đầu những năm 2000, Thượng Hải phát triển theo mô hình mà nhiều học giả gọi là "Mô hình Phố Đông" (Pudong model): chính quyền thu hồi đất quy mô lớn, giải tỏa các khu dân cư cũ, rồi chuyển đổi quỹ đất sang phát triển thương mại để lấy nguồn lực xây dựng hạ tầng và tái cấu trúc đô thị.
"Nhưng sau khi những tòa tháp hào nhoáng mọc lên, Thượng Hải nhận ra họ phải trả một cái giá xã hội và đô thị rất lớn. Không chỉ nhà cửa bị phá bỏ, mà cả cấu trúc cộng đồng, ký ức tập thể và nhịp sống tích tụ qua nhiều thế hệ cũng biến mất theo. Nhiều cư dân được tái định cư ra xa tít, trong những khu chung cư mới nhưng xa nơi làm việc, rời bỏ mạng lưới xã hội cũ và xa cả cảm giác thuộc về thành phố của mình," ông Sơn nói.
Kiến trúc sư này nói rằng đến năm 2021, Trung Quốc đã từ bỏ mô hình "Đại phá đại kiến" giải tỏa trắng và hiện đại hóa cực đoan này với tất cả sai lầm và hệ lụy của nó.
Ông Sơn đánh giá: "Cơ quan quản lý của Trung Quốc hiểu ra rằng một thành phố không chỉ là bất động sản và hạ tầng; nó còn là ký ức, là cấu trúc xã hội và là những lớp văn hóa tích tụ qua thời gian. Nếu tiếp tục coi đô thị cũ như một tờ giấy trắng để vẽ lại từ đầu sẽ tạo ra sự đứt gãy lớn trong cộng đồng, sự lệ thuộc vào bất động sản và hạ tầng quy mô lớn, sự gia tăng bất bình đẳng không gian và những thành phố đẹp hơn trên ảnh chụp nhưng nghèo đời sống đô thị thực sự."
Từ đó, tư duy quy hoạch của Trung Quốc bắt đầu chuyển theo hướng "châm cứu đô thị": hạn chế phá dỡ quy mô lớn, ưu tiên cải tạo mềm, giữ lại cộng đồng cư dân hiện hữu, bảo tồn cấu trúc không gian cũ khi có thể và phát triển các can thiệp đô thị quy mô nhỏ nhưng tinh tế hơn.
"Đó cũng là bài học quan trọng với Hà Nội hôm nay," chuyên gia này kết luận.